UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG PHƯƠNG LIỆT
TRƯỜNG MẦM NON PHƯƠNG LIỆT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong trường mầm non
Tên tác giả: Nguyễn Thùy Dương
Đơn vị công tác: Trường mầm non Phương Liệt
Chức vụ: Giáo viên
Năm 2026
I. Đặt vấn đề:
1. Tính cấp thiết trong việc phát triển vốn từ cho trẻ
“Trẻ lên ba, cả nhà học nói” Đặc biệt đối với trẻ mầm non ngôn ngữ là công cụ tư duy và là phương tiện giúp trẻ hòa nhập vào thế giới xung quanh, là cơ sở để hình thành và phát triển nhân cách. Với trẻ 24 - 36 tháng tuổi vốn từ của trẻ còn nhiều hạn chế, cơ quan phát âm đang được phát triển mạnh. Trẻ luôn thắc mắc trước những gì mà trẻ nhìn thấy, nghe thấy từ đó đặt ra nhiều câu hỏi và mong muốn nhận được sự giải đáp của người lớn.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, phần lớn bố mẹ đều bận rộn công việc, thời gian bố mẹ trò chuyện với trẻ để phát triển vốn từ còn ít. Một số phụ huynh còn chưa nhận thức về tầm quan trọng của ngôn ngữ. Do vậy vốn từ của trẻ ngày nay phát triển chậm và ít, chủ yếu trẻ được tiếp xúc và phát triển vốn từ thông qua tivi, điện thoại….có những trẻ do xem tivi, điện thoại các bài hát, hoạt hình tiếng anh trẻ bị rối loạn ngôn ngữ trẻ nói tiếng anh trong khi không hiểu mình đang nói gì, do chưa được sự chỉ bảo, uốn nắn của người lớn, nhiều trẻ chậm nói hoặc trẻ không thích nói, không thích giao tiếp đặc biệt ở lứa tuổi nhà trẻ 24-36 tháng tuổi. Nhiều phụ huynh trao đổi với cô giáo “Bé chưa biết nói, bé nói ít. Cô ơi làm sao để bé nói nhiều hơn? Nhờ cô giáo quan tâm giúp đỡ con để con nói nhiều hơn”.
Trong khi tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ, tôi thấy nhiều trẻ còn chưa mạnh dạn, tự tin khi phát âm, cũng như đưa ra các ý kiến, câu hỏi và khả năng nghe, hiểu với mọi người xung quanh chưa được tốt, trẻ còn nói ngọng và phát âm chưa chuẩn. Không những thế, học nói cũng là bước đầu giúp trẻ phát triển tốt về trí tuệ. Vậy làm thế nào để trẻ có thể phát triển ngôn ngữ một cách hiệu quả? Làm sao để trẻ có thể nói tốt, câu từ mạch lạc và “chuẩn” về ngữ nghĩa? Làm sao để trẻ có thể tự tin trong giao tiếp? Là một giáo viên trực tiếp dạy trẻ 24-36 tháng tuổi tôi luôn có những suy nghĩ trăn trở làm sao để để các con phát triển vốn từ, hiểu được nghĩa của từ, làm thế nào giúp trẻ biết cách sử dụng và phát âm chính xác hơn, chuẩn hơn để nâng cao phát triển ngôn ngữ chgo trẻ. Tôi thấy mình cần phải tìm hiểu kỹ vấn đề này và làm thế nào để vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng, giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh trẻ một cách có hiệu quả nhất. Đó chính là lý do tôi lựa chọn để tài: “Một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong trường mầm non” trong năm học 2025 - 2026. Tôi mong muốn sẽ thu hút, khơi dậy ở trẻ tính tích cực nhận thức, kích thích hoạt động tư duy, diễn đạt bằng ngôn ngữ. Từ đó góp phần vào việc hình thành và phát triển, tích lũy, mở rộng vốn từ phong phú, đa dạng giúp trẻ phát âm đúng tạo cho trẻ môi trường ngôn ngữ lành mạnh, là điệu kiện chuẩn bị cho trẻ một hành trang ngôn ngữ tốt sau này.
2. Mục tiêu của việc tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ.
- Đánh giá thực trạng về vốn từ của trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non.
- Tìm ra các biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng tuổi phát triển vốn từ thông qua các hoạt động trong ngày ở trường mầm non.
- Giúp trẻ phát triển khả năng nghe, hiểu, trả lời câu hỏi một cách có logic, có trình tự, chánh xác, mạch lạc. Làm phong phú vốn từ, phát triển ngôn ngữ cho trẻ, sửa lỗi nói ngọng trẻ hay mặc phải ở độ tuổi 24-36 tháng tuổi. Giúp trẻ mạnh dạn tự tin trước mọi người, giúp trẻ thích được giao tiếp, thích trò chuyện chia sẻ.
- Giúp giáo viên linh hoạt, sáng tạo và tìm tòi, học hỏi những phương pháp giáo dục mới đưa vào giáo dục trẻ để thu hút trẻ tham gia hoạt động, đổi mới hình thức lấy trẻ làm trung tâm để trẻ được hoạt động, được giao tiếp và chia sẻ cảm xúc nhiều hơn.
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong trường mầm non”.
Lớp nhà trẻ D2 với 27 trẻ.
* Thời gian đề tài được thực hiện từ 09/2025 đến hết tháng 03/2026
* Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng
- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi.
- Giới hạn về khách thể điều tra: 27 trẻ lớp Nhà trẻ D2.
- Giới hạn về địa bàn khảo sát: Trường mầm non Phương Liệt
II Nội dung trong việc phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng
1. Thực trạng
* Thuận lợi
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, nhà trường tạo điều kiện về CSVC và trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi đầy đủ đảm bảo các hoạt động của cô và trò.
Nhà trường có đầy đủ phòng học trang thiết bị thuận tiện cho việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ, có đầy đủ đồ dùng đồ chơi và các góc chơi tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ hoạt động.
Bản thân tôi là một giáo viên đã có 18 năm công tác trong nghề và có nhiều năm kinh nghiệm dạy lớp nhà trẻ 24-36 tháng tuổi (Tổ phó chuyên môn khối nhà trẻ và Bé) luôn có tinh thần trách nhiệm, luôn tâm huyết yêu nghề mến trẻ, nhiệt tình trong công tác, có ý thức trau dồi kiến thức và có trình độ chuyên nghiệp vụ vững vàng. Hai giáo viên trong lớp đều có trình độ đại học, luôn đồng hành, chia sẻ, ủng hộ và có tinh thần trách nhiệm cao, nhanh nhẹn, yêu nghề tâm huyết trong công việc chăm sóc giáo dục trẻ tại lớp.
Phụ huynh luôn tin tưởng, ủng hộ các phong trào của lớp và nhà trường. * Khó khăn
Trẻ nhà trẻ còn bé đầu năm mới đi học nên còn quấy khóc nhiều, chưa quen với các hoạt động của trường mầm non, cũng như các thói quen học tập
dẫn đến việc cung cấp ngôn ngữ cho trẻ còn gặp khó khăn.
Đặc điểm tâm lý của trẻ 24-36 tháng tuổi là nhanh nhớ, chóng quên, vốn từ còn hạn chế, trẻ thường trả lời không đầy đủ câu. Ngôn ngữ của trẻ chưa rõ ràng, trẻ còn nhút nhát, bỡ ngỡ với môi trường lớp học.
Đa số phụ huynh còn trẻ đang trong độ tuổi lao động, họ phải đi làm nên thời gian dành cho trẻ còn hạn chế. Một số phụ huynh chưa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục mầm non nên chưa thực sự quan tâm nhiều đến việc tổ chức cho con trẻ phát triển ngôn ngữ.
1.3. Cách làm cũ, nhược điểm của cách làm cũ, khảo sát thực trạng trước khi thực hiện đề tài.
* Cách làm cũ và nhược điểm của cách làm cũ
Hình thức: Trước đây khi dạy trẻ phát triển ngôn ngữ cho trẻ tập nói cho trẻ tôi chỉ thực hiện hoạt động hướng dẫn trẻ trên giờ học, hoặc giờ chơi. Với các nội dung phát triển ngôn ngữ trước đây chỉ sử dụng các câu chuyện nội dung chưa giàu hình ảnh, thể hiện rõ tính cách nhân vật, những câu chuyện đơn điệu về hình thức luôn đi theo một mô tuýp cũ thì hầu hết trẻ không mấy hứng thú và không gây sự tập trung chú ý của trẻ, trẻ phụ thuộc vào cô hoàn toàn, trẻ làm theo sự hướng dẫn của cô.
Địa điểm tổ chức: Thông thường chúng ta chỉ dạy trẻ ở trên lớp. Trẻ cảm thấy nhàm chán, không hứng thú vì địa điểm quá quen thuộc với trẻ.
Trẻ bị ảnh hưởng bởi các thiết bị điện tử thêm vào đó bố mẹ bận rộn với công việc, thường sử dụng các thiết bị điện tử để dụ trẻ tự chơi. Do đó, trẻ ít được giao tiếp, tương tác, hạn chế sự phát triển vốn từ cho trẻ. Giáo viên và phụ huynh chưa chú ý quan tâm đến trẻ chậm nói vì nghĩ trẻ còn nhỏ sau lớn sẽ nói tốt như các bạn nên ngôn ngữ của trẻ không phát triển, vốn từ ít nên chưa nói được nhu cầu của bản thân.
* Khảo sát thực trạng
Năm học 2025-2026 tôi được phân công phụ trách nhóm trẻ 24 - 36 tháng tuổi với tổng số 27 trẻ. 100% trẻ lớp tôi mới ra lớp nên không tránh khỏi những bỡ ngỡ, đa số trẻ còn quấy khóc làm ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe trẻ. Tôi nhận thấy đa số trẻ trong lớp mình khả năng phát âm của trẻ còn kém, nói chưa đủ câu, còn nhiều trẻ nói ngọng, nói lắp, một số trẻ chưa nói được hoặc nói từ đơn như bà, bố, mẹ.... nói chưa rõ từ để nói lên mong muốn của mình. Để rèn ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ là một vấn đề rất khó. Chính vì vậy tôi đã khảo sát khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ lớp mình và thu được kết quả như sau:
Bảng khảo sát trẻ đầu năm của lớp Nhà trẻ D2 (tổng số trẻ 27 trẻ)
| STT | Nội dung | Số trẻ | Kết quả |
| Đạt | Chưa đạt |
| Số lượng | Tỷ lệ % | Số lượng | Tỷ lệ % |
| 1 | Khả năng phát âm chuẩn, đúng ngữ pháp | 27 | 8 | 25% | 19 | 75% |
| 2 | Khả năng nghe và hiểu ngôn ngữ, sử dụng vốn từ | 9 | 30% | 18 | 70% |
| 3 | Khả năng nói đủ câu, rõ ràng, mạch lạc, không nói ngọng, nói lắp | 5 | 15% | 22 | 85% |
| 4 | Trẻ tự tin khi giao tiếp | 7 | 30% | 20 | 70% |
| 5 | Trẻ hứng thú và tích cực tha gia vào các hoạt động | 8 | 40% | 19 | 60% |
2. Các biện pháp trong hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ
Qua khảo sát tôi có thể nắm rõ nhưng mặt ưu điểm, hạn chế và những đặc điểm riêng của từng trẻ cũng như sự nhận thức của trẻ là khác nhau. Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy rằng vốn từ từ của trẻ còn nhiều hạn chế về câu từ, về cách phát âm. Khi trẻ nói hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp chưa đủ câu cho nên nhiều khi giáo viên chưa hiểu trẻ đang nói gì? Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nói, trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi. đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc vốn từ của trẻ nghèo nàn. Đối với tuổi mầm non trẻ rất hiếu động, tư duy của trẻ là tư duy cụ thể việc “Học bằng chơi – Chơi mà học”, bởi vì thế giới xung quanh trẻ cái gì cũng mới lạ, trẻ thích tìm tòi, khám phá những sự vật hiện tượng xung quanh. Trẻ thường hỏi các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Nhưng cũng có một số trẻ nhút nhát, ít nói, sợ hãi khi trẻ lời câu hỏi.
Vì vậy giáo viên phải chú ý đến từng đặc điểm cá nhân của trẻ, nắm bất được đặc điểm cá nhân của từng cháu để có những biện pháp giáo dục tốt hơn. Và đó cũng là lý do tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong trường mầm non” tôi mong muốn sẽ thu hút, khơi dậy ở trẻ tính tích cực nhận thức, kích thích hoạt động tư duy, diễn đạt bằng ngôn ngữ. Từ đó góp phần vào việc hình thành và phát triển, tích lũy, mở rộng vốn từ phong phú, đa dạng giúp trẻ phát âm đúng tạo cho trẻ môi trường ngôn ngữ lành mạnh, là điều kiện chuẩn bị cho trẻ một hành trang ngôn ngữ tốt sau này. Để đạt kết quả tốt và hiệu quả cao trong việc tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp như sau:
2.1. Biện pháp 1: Tăng cường công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân
- Tác dụng của biện pháp: Nhằm giúp bản thân trau dồi kiến thức, chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ.
- Cách thức thực hiện biện pháp
Trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, để đáp ứng nhu cầu chung của xã hội việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên là một việc làm rất quan trọng và cần thiết. Vì thế việc tự học, tự bồi dưỡng giúp giáo viên ngày càng tiến bộ, trưởng thành, có đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành sứ mệnh của sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân tôi thường xuyên cập nhật và nghiên cứu đầy đủ các văn bản chỉ đạo của cấp trên như: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục và đào tạo, nhà trường, chương trình giáo dục mầm non, các tài liệu bồi dưỡng chuyên môn hàng năm nhằm nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ tôi đã tự học hỏi, tìm hiểu qua sách báo hay qua các chương trình truyền hình như VTV6, VTV7, Website thư viện giáo án bài giảng Nslide http://baihoc.vn, kho học liệu số giáo dục https://igiaoduc.vn, thư viện bài giảng điện tử Violet và đồng nghiệp trong trường cũng như ở trường bạn. Qua thực hiện chuyên đề tôi được Ban giám hiệu nhà trường và đồng nghiệp đánh giá, nhận xét, góp ý để rút kinh nghiệm, phát huy những mặt mạnh và khắc phục những điểm còn hạn chế.
Bên cạnh việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn trong giảng dạy, một yêu cầu tôi đặt ra cho bản thân đó là hiểu biết về công nghệ, cập nhật kiến thức về công nghệ số, bài giảng điện tử đáp ứng yêu cầu “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”. Cập nhật, bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Qua thời gian tự học và tìm tòi nghiên cứu tôi sử dụng thành thạo các phần mềm như: Chat GPT, PowerPoint, Photoshop, MovieMaker, Canva, Camtasia… phần nào hỗ trợ công tác giáo dục và tăng khả năng hứng thú cho trẻ trong các hoạt động.
Với hoạt động nhận biết đòi hỏi giáo viên phải luôn tìm tòi, sáng tạo, thiết kế và tổ chức hoạt động nhận biết giúp trẻ luôn hứng thú và không bị nhàm chán. Trước khi chuẩn bị thực hiện một hoạt động tôi luôn chuẩn bị chu đáo từng câu, từng từ làm sao để giúp trẻ hiểu và phát âm một cách rõ ràng nhất.
- Kết quả thực hiện: Khi áp dụng biện pháp này bản thân nhận thấy mình cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, việc tự học phải luôn được duy trì mọi lúc mọi nơi qua nhiều năm, tháng…Để thêm kiến thức, đúc kết những kinh nghiệm cho quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ được tốt hơn. Nhờ vào biện pháp này mà tôi có thêm kinh nghiệm trong quá trình chăm sóc giáo dục đặc biệt kinh nghiệm trong hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ.
2.2. Biện pháp 2: Tìm hiểu tâm lí, đặc điểm ngôn ngữ của từng trẻ để có biện pháp giáo dục phù hợp
- Tác dụng của biện pháp: Nhằm giúp bản thân hiểu rõ về tâm lí, đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 24-36 tháng tuổi từ đó chủ động, linh hoạt và đưa ra biện pháp, kế hoạch giáo dục để tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ.
- Cách thức thực hiện biện pháp
Để giúp trẻ phát triển tốt về vốn từ tôi đã nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm tâm lí độ tuổi của trẻ để hiểu trẻ và có biện pháp giáo dục phù hợp nhất. Trẻ 24-36 tháng tuổi với những đặc điểm tâm lý về vốn từ như sau:
+ Đặc điểm phát âm: Trẻ đã phát âm được các âm khác nhau, một số trẻ còn chưa phát âm được, phát âm được các âm của lời nói nhưng vẫn còn ê a. Trẻ hay phát âm sai ở những từ khó, những từ có 2/3 âm tiết như: Lựu/lịu, hươu/hiu, hoa sen/xem, thuyền buồm/ thiền bồm….
+ Đặc điểm vốn từ: Vốn từ của trẻ còn rất ít. Danh từ và động từ ở trẻ chiếm ưu thế. Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ đồ vật con vật, hành động trong giao tiếp quen thuộc hàng ngày. Những các từ chỉ khái niệm tương đối như: Hôm qua, hôm nay, ngày mai…trẻ sử dụng chưa chính xác. Một số trẻ đã biết sử dụng các từ chỉ màu sắc như: màu xanh, màu đỏ, màu vàng…. Đã biết sử dụng các từ thể hiện sự lễ phép với người lớn trong giao tiếp như: Cảm ơn cô, vâng, dạ…
+ Sắp xếp cấu trúc lời nói: Cách diễn đạt nội dung, sự liên kết các câu nói lại với nhau tạo thành chuỗi lời nói nhằm diễn tả trọn vẹn một ý, một nội dung ngắn gọn nào đó để giúp người nghe hiểu được, đối với một số trẻ là đơn giản. Nhưng đối với một số trẻ khác nhỏ tháng hơn lại là rất khó.
+ Diễn đạt nội dung nói: Cách diễn đạt nội dung của trẻ ở lứa tuổi này còn ê a, ậm ừ. Đôi khi chưa diễn đạt được ý muốn của mình bằng những câu đơn giản. Trẻ còn rụt rè, chưa mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp.
+ Đặc điểm ngữ pháp: Trẻ nói được 1 số câu đơn giản, biết thể hiện nhu cầu mong muốn và hiểu biết của mình bằng 1 hay 2 câu. VD: Cô ơi! Con uống nước…
Tôi nhận thấy vốn từ của trẻ tuy phát triển nhưng vẫn còn hạn chế bộ máy phát âm của trẻ đang hoàn thiện dần nên khi trẻ nói, trẻ hay nói chậm, hay nói kéo dài giọng, đôi khi còn ậm ừ, ê, a. Trẻ còn nhỏ rất hiếu động, thích tìm tòi, khám phá mọi thứ xung quanh, thường thắc mắc trước những gì mà trẻ nhìn thấy, nghe thấy và câu hỏi như: ai đây? cái gì đây? Con gì đây.
- Kết quả thực hiện: Hiểu được đặc điểm tâm lý và vốn từ của trẻ theo độ tuổi đã giúp tôi dễ dàng tiếp cận và có phương pháp giáo dục phù hợp với từng trẻ lớp mình.
2.3. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học thân thiện, gần gũi kích thích trẻ tìm tòi, khám khá giúp trẻ phát triển vốn từ.
- Tác dụng của biện pháp: Xây dựng môi trường lớp học đẹp, thân thiện, gần gũi, các góc mở là một trong những yếu tố quan trọng trong việc khuyến khích tính độc lập, tìm tòi, sáng tạo của trẻ, giúp trẻ tích cực tìm tòi, khám phá từ đó kích thích tư duy, phát triển vốn từ cho trẻ.
- Cách thức thực hiện biện pháp
Trong lớp tôi đã sắp xếp không gian, các góc hoạt động trong lớp học hợp lý, thẩm mỹ, thân thiện, gần gũi với trẻ. Đồ dùng, đồ chơi, các nguyên vật liệu được lựa chọn và sử dụng đa dạng - phong phú và có tính thẩm mỹ, kích thích sự tò mò của trẻ. Tận dụng những nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có ở địa phương như: vỏ ngao, vỏ hến, đá cuội, ống giấy, bìa catton, các loại hột hạt, lá cây, gỗ… Tôi sử dụng những nguyên vật liệu thiên nhiên gần gũi với trẻ làm đồ dùng để dạy trẻ học.
* Ví dụ: Góc hoạt động với đồ vật: Các đồ dùng, đồ chơi trong lớp học tôi sẽ bố trí các loại đồ dùng, đồ chơi cùng chủng loại có kích thước to, nhỏ khác nhau. Sau mỗi giờ chơi tôi sẽ yêu cầu trẻ cất đồ dùng vào hộp to, nhỏ tương ứng. Bố trí các đồ dùng, đồ chơi có hình dạng, kích thước, màu sắc khác nhau theo cặp để gần nhau giúp trẻ dễ nhận diện và phân biệt hơn.
Việc sắp xếp đồ dùng sẽ thay đổi theo ngày hoặc tuần, tùy theo kế hoạch và kiến thức, kỹ năng giáo viên muốn cung cấp cho trẻ, hoặc đơn giản chỉ là tạo ra sự khác biệt, bất ngờ, kích thích sự tò mò cho trẻ. Mỗi lần thay đổi môi trường lớp học như vậy giúp trẻ trẻ cảm thấy mới mẻ hơn, thoải mái khi tham gia hoạt động. Trong khi dạy trẻ tôi luôn chú ý để biết trẻ nào nói đúng, trẻ nào nói sai nhằm kịp thời sửa sai uốn nắn giúp trẻ nói đúng, đủ câu, đủ ý, khi cho trẻ nhận biết sự vật, hiện tượng tôi tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá bằng nhiều giác quan, tôi luôn coi trọng quá trình trẻ hoạt động hơn là kết quả hoạt động.
- Kết quả thực hiện: Khi áp dụng biện pháp này trẻ lớp tôi tích cực tham gia các hoạt động góc, trẻ thích thú, tìm tòi khám phá các góc chơi giúp trẻ thích đi học, trẻ nhanh quen cô và các bạn, không còn quấy khóc nhiều vì được chơi vời nhiều đồ chơi, góc chơi khác nhau. Từ đó giúp trẻ mạnh dạn, giao tiếp với bạn, vốn từ của trẻ cũng phát triển từ đó.
2.4. Biện pháp 4: Lựa chọn tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ phù hợp với độ tuổi.
- Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua giờ đón - trả trẻ.
+ Tác dụng của biện pháp: Giúp cô và trẻ tương tác giao lưu với nhau gần gũi hơn qua các câu hỏi, các động tác chào nhau thể hiện với nhiều động tác cử chỉ khác nhau, qua đó giáo viên và trẻ tương tác trực tiếp đến từng trẻ giúp trẻ nói nhiều hơn từ đó phát triển vốn từ cho trẻ.
+ Cách thức thực hiện biện pháp: Giờ đón – trả trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tới trường, tới lớp nên tôi đã niềm nở, thân thiện, gần gũi và tích cực trò chuyện với trẻ. Vì trò chuyện với trẻ là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ cho trẻ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể cung cấp, mở rộng vốn từ cho trẻ. Qua quá trình tiếp xúc với mọi người, cô giáo và bạn bè, vốn ngôn ngữ của trẻ tăng lên, trẻ học được cách nói của người lớn, lúc đó trẻ mới nói được thành câu hoàn chỉnh. Trẻ sẽ mạnh dạn, tự tin hơn, ngôn ngữ của trẻ ngày càng mạch lạc hơn. Như vậy, sẽ kích thích trẻ nói nhiều hơn, trả lời câu trọn vẹn hơn bên cạnh đó còn giáo dục cho trẻ có thói quen lễ phép, biết vâng lời người lớn. Với mỗi buổi sáng đến lớp, trước khi bước vào lớp, trẻ sẽ lựa chọn một hình thức cho màn chào hỏi với cô giáo trong “menu lựa chọn” hành động cảm xúc và được cô giáo linh hoạt chào đón theo yêu cầu.
+ Kết quả thực hiện: Khi áp dụng biện pháp này các chào hỏi không còn cứng nhắc như trước kia là đón trẻ hay trả trẻ là nhắc trẻ chào cô, chào bố mẹ. Với cách chào này trẻ được lựa chọn theo sở thích của mình, trẻ tích cực và vui vẻ hơn. Nhiều phụ huynh phản hồi về sự thích thú và hứng khởi của các con với màn khởi động buổi sáng thú vị cho cả cô và trò. Từ đó cô và trẻ hiểu nhau hơn và dễ dàng trò chuyện với trẻ hơn giúp cô giáo cung cấp vốn từ cho trẻ dễ dàng.
- Phát triển vốn từ thông qua các hoạt động học
Phát triển vốn từ qua hoạt động nhận biết tập nói
+ Tác dụng của biện pháp: Thông qua giờ nhận biết nhằm hướng dẫn trẻ xem xét sự vật, hiện tượng xung quanh gần gũi với trẻ, giúp trẻ nhận biết được sự vật, những đặc điểm, cấu tạo của sự vật, hành động với sự vật... trên cơ sở đó cung cấp những từ tương ứng, từ đó rèn luyện kỹ năng phát âm, rèn luyện câu theo cấu trúc ngữ pháp và đặc biệt là tăng nhanh vốn từ của trẻ.
+ Cách thức thực hiện biện pháp:
- Trong quá trình dạy trẻ tôi luôn quan tâm đến việc dạy học lấy trẻ làm trung tâm, dạy trẻ dựa trên nhu cầu mong muốn và khả năng của trẻ để đưa ra các hoạt động cụ thể.
- Nhận biết trong giờ học là hoạt động quan trọng nhất đối với sự phát triển nhận thức của trẻ. Đối với trẻ 24 - 36 tháng tuổi, thì nhu cầu nhận thức của trẻ là rất lớn, vì vậy việc tổ chức thực hiện các hoạt động nhận biết thường xuyên là vô cùng cần thiết. Vì vậy làm thế nào để trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động học mà không nhàm chán. Tôi quan tâm đến việc lựa chọn và đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức bằng hình thức trải nghiệm mọi lúc mọi nơi. Khi trẻ trải nghiệm trẻ sẽ được cầm, nắm, sờ, mó, quan sát. Như vậy trẻ sẽ ghi nhớ được màu sắc, hình dạng, kích thước.Từ đó giúp trẻ khắc sâu hơn những kiến thức, kỹ năng mà trẻ vừa tự tìm hiểu và vừa được giáo viên cung cấp. Việc chuẩn bị đồ dùng sao cho hấp dẫn, là những đồ dùng đảm bảo tính thẩm mỹ và có sự kích thích, tò mò với trẻ, phong phú về chủng loại đồ dùng và đủ số lượng cho trẻ. Đặc biệt, trong quá trình hoạt động tôi luôn lắng nghe và chấp nhận các ý kiến của trẻ, cùng chia sẻ ý tưởng chơi với trẻ, không áp đặt ý kiến của mình. Nếu trong quá trình học và chơi có các tình huống sảy ra, tôi luôn bình tĩnh quan sát, lắng nghe tuyệt đối không vội vàng can thiệp ngay khi không thật sự cần thiết, tạo cơ hội để trẻ đưa ra các ý kiến và tự giải quyết tình huống theo cách của trẻ. Hoặc chỉ gợi ý cho trẻ giải quyết các vấn đề bằng các câu hỏi mở.
Ví dụ: Khi dạy về con Thỏ: Tôi chuẩn bị một con thỏ thật. Và tôi xây dựng hệ thống câu hỏi ngắn gọn như:
- Đây là con gì? Cả lớp cùng nói to nào (con thỏ)
- Ai chỉ cho cô biết mắt thỏ đâu nào? (Trẻ chỉ tay và nói: Mắt thỏ đây ạ)
- Đây là cái gì? (Đuôi thỏ đây ạ)...
Khi trẻ trả lời cô phải hướng dẫn trẻ phát âm chính xác từ, nói đầy đủ câu đúng ngữ pháp: Các con vừa cho thỏ ăn gì nhỉ? (Trẻ nói câu: Thỏ ăn cà rốt ạ). Mọi thời điểm trong ngày tôi đặc biệt chú trọng việc trẻ trả lời cô đầy đủ câu, rõ ràng, và sửa phát âm cho trẻ. Cứ như vậy tôi đặt hệ thống câu hỏi từ tổng thể đến chi tiết để trẻ trả lời nhằm kích thích trẻ phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ, qua đó liên hệ thực tế giáo dục trẻ về an toàn giao thông khi đi trên đường. Qua những câu hỏi tôi đặt ra sẽ giúp trẻ tích lũy được vốn từ mới. Ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chính xác, mạch lạc, rõ ràng hơn. Ở lứa tuổi này trẻ thường hay nói trống không, hoặc nói những câu không có nghĩa. Vì vậy bản thân tôi luôn chú ý lắng nghe và nhắc nhở trẻ, nói mẫu cho trẻ nghe và yêu cầu trẻ nhắc lại.
+ Kết quả thực hiện: Khi sử dụng biện pháp này, tôi thấy đa số trẻ đều rất hứng thú tham gia hoạt động, trẻ được tư duy, mạnh dạn tự tin hơn, vốn từ của trẻ tăng lên rất nhiều và rõ rệt, kiến thức trên trẻ đạt tỉ lệ cao.
- Phát triển vốn từ qua hoạt động làm quen văn học
+ Tác dung biện pháp: Hoạt động văn học là hoạt động cung cấp vốn từ cho trẻ nhiều nhất. Trẻ được trả lời cô, được đọc thơ, được cô sửa lỗi phát âm. Tôi đã khuyến khích trẻ đọc nhiều, kết hợp sửa sai, nhắc lại và yêu cầu trẻ phát âm từ đó. Đối với những trẻ cá biệt, tôi gây sự chú ý cho trẻ bằng ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ. Khi trẻ có biểu hiện không tập trung, tôi đặt câu hỏi, nêu tình huống và yêu cầu trẻ đó trả lời, nhằm chuyển sự chú ý của trẻ theo mục đích của cô.
+ Cách thức thực hiện biện pháp
Để hoạt động văn học đạt hiệu quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ thì đồ dùng phục vụ cho hoạt động cũng phải đa dạng, đẹp mắt vì tư duy của trẻ vẫn là tư duy trực quan.
- Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ sinh cho trẻ.
- Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, thơ; ngôn ngữ của giáo viên phải trong sáng, giọng đọc diễn cảm, thể hiện được ngữ điệu tính cách của nhân vật.
Ví dụ: Trong giờ kể chuyện: “Thỏ con không vâng lời”, để phát triển ngôn ngữ cho trẻ tôi sử dụng tranh truyện, sa bàn để trẻ quan sát. Trong quá trình trích dẫn, giảng giải tôi chú trọng cung cấp từ mới cho trẻ và cho trẻ đọc từ mới, từ khó. Tiếp theo tôi dùng hệ thống câu hỏi đàm thoại theo hướng mở để kích thích trẻ trả lời những câu dài.
Qua các câu chuyện, bài thơ ngoài những từ ngữ trẻ đã biết, tôi cung cấp thêm vốn từ mới cho trẻ để ngôn ngữ của trẻ thêm đa dạng và phong phú. Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói lắp cũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp. Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chú trọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ.
+ Kết quả thực hiện: Như vậy qua hoạt động văn học có tác dụng làm giàu vốn từ (đặc biệt là vốn từ nghệ thuật), phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm nghệ thuật và diễn đạt bằng ngôn ngữ văn học.
- Phát triển vốn từ qua hoạt động với đồ vật, âm nhạc, tạo hình.
+ Tác dụng của biện pháp: Giúp giáo viên linh hoạt và mở rộng vốn từ cho trẻ, ngoài ra cung cấp nhận thức về thế giới xung quanh cho trẻ, trẻ nhận biết màu sắc, cách sử dụng, tác dụng của đồ vật thông qua hoạt động với đồ vật. Với hoat động âm nhạc giúp trẻ tích cực mở rộng vốn từ qua các bài hát.
+ Cách thức thực hiện biện pháp:
Hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo của trẻ 24 - 36 tháng tuổi. Đồ
vật xung quanh trẻ không chỉ để nghịch hoặc để vui chơi mà còn chứa đựng một chức năng nhất định. Vì vậy với sự hướng dẫn của các cô trẻ rất thích thú khi được biết tên gọi và biết được ý nghĩa của đồ vật như: Màu sắc, hình dạng và tác dụng của chúng, từ đó tôi cho trẻ tập nói để phát triển ngôn ngữ như: Nếu muốn cho trẻ xếp đoàn tầu hỏa, tôi cho trẻ gọi tên loại đồ chơi đó bằng câu hỏi: Đây là gì? Dùng để làm gì? Đồ chơi này có mầu gì? Để xếp được đoàn tàu con phải làm như thế nào? Con xếp được cái gì đây?...Từ việc đặt ra các câu hỏi để trẻ trả lời, tôi đã rèn được khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trong hoạt động âm nhạc khi hát trẻ cũng sử dụng bộ máy phát âm. Vì thế, thông qua hoạt động dạy hát cho trẻ cũng là cách tôi luyện âm thanh ngôn ngữ, bởi trẻ phải lắng nghe rất cẩn thận để cảm nhận giai điệu, nhịp điệu của bài hát thì trẻ mới hát được. Qua hoạt động âm nhạc sẽ giúp trẻ sử dụng ngôn ngữ để miêu tả bài hát theo nhịp điệu âm thanh từ đó trẻ học các từ ngữ và cách phát âm khi hát. Thông qua âm nhạc tôi đã giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ có vần, có nhịp, trẻ mạnh dạn hơn, tự tin hơn, ngôn ngữ lưu loát hơn, vốn từ của trẻ tăng lên rõ dệt. Tôi luôn kết hợp rèn về ngôn ngữ cho trẻ, cho trẻ phát âm nhiều lần, đặt các câu hỏi cho trẻ trả lời, sửa sai lỗi khi trẻ nói ngọng, nói lắp, nói bớt từ…Để tăng vốn từ cho trẻ từ đó giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp.
+ Kết quả thực hiện: Khi áp dụng biện pháp tôi chú trọng ch trẻ phát âm nhiều lần, sửa các lỗi nói ngọng, nói lắp, nói bớt từ cho trẻ. Quan tâm tới trẻ nói ít, chậm nói để tăng vốn từ cho trẻ.
- Phát triển vốn từ qua hoạt động chơi.
+ Tác dụng của biện pháp: Trẻ mầm non “Học bằng chơi, chơi mà học” thông qua việc chơi, trẻ học và tích lũy được nhiều kinh nghiệm và vốn sống cho mình, giờ hoạt động chơi ở các góc hoặc hoạt động ngoài trời trẻ được chơi và giao tiếp cùng bạn bè, vì vậy ngôn ngữ của trẻ được tăng lên.
+ Cách thức thực hiện biện pháp: Hoạt động dạo chơi ngoài trời cũng là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ. Thông qua hoạt động ngoài trời, trẻ được tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu không khí trong lành, được khám phá. thỏa mãn trí tò mò của trẻ. Ngoài ra tôi còn giới thiệu cho trẻ mọi vấn đề đang diễn ra xung quanh trẻ.
Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát vườn hoa. Cô có thể hỏi:
- Đây là cây hoa gì? Cô chỉ vào từng bộ phận của hoa (Lá hoa, Cánh hoa, Nhị hoa....) để cho trẻ gọi tên.Lá cây màu gì? Hoa màu gì? Trồng hoa để làm gì?
Hoạt động dạo chơi, tham quan có tác dụng rất lớn đối với việc mở rộng tầm hiểu biết của trẻ. Thiên nhiên không chỉ mang đến cho trẻ những thứ cần thiết, mà còn hấp dẫn trẻ bởi những điều kỳ diệu mà không có gì thay thế nổi. Đồng thời trong quá trình dạo chơi trẻ được đặt nhiều câu hỏi về tên gọi, công dụng của sự vật mà trẻ được tiếp xúc. Vì vậy, dạo chơi, tham quan có tác dụng lớn trong việc phát triển vốn từ cho trẻ.
+ Kết quả thực hiện: Qua các hoạt động chơi ngoài trời đã mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trẻ vừa được khám phá, trải nghiệm thiên nhiên kỳ thú vừa học vừa chơi một cách thoải mái nhất, trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. Từ đó vốn từ của trẻ được tăng lên, trẻ nói đúng câu, diễn đạt mạch lạc.
2.5. Biện pháp 5: Làm tốt công tác truyền thông đến phụ huynh nhằm phối hợp thực hiện giáo dục phát triển vốn từ cho trẻ.
- Tác dụng của biện pháp: Phụ huynh đã hiểu và nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ đặc biệt trẻ ở độ tuổi 24-36 tháng tuổi. Phụ huynh quan tâm tới các hoạt động của trẻ tại trường và đồng hành với trẻ trong các hoạt động sự kiện của trường, lớp.
- Cách thức thực hiện biện pháp
Gia đình là nền tảng, là xã hội thu nhỏ của trẻ, xác định được điều này tôi luôn trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ ở trường bằng nhiều hình thức như: gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khỏe, việc học của trẻ, tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về cách nuôi con theo khoa học, thống nhất về kế hoạch hoạt hoạt động cho từng tháng, từng tuần ngoài ra tôi còn in thêm tài liệu như: thơ, chuyện, bài hát, để phụ huynh nắm bắt được chương trình, kết hợp dạy trẻ ở tại gia đình. Tôi trao đổi với phụ huynh về tầm quan trọng của việc phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo trong việc phát triển ngôn ngữ. Hàng ngày phụ huynh phải dành nhiều thời gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, nhất là trò chuyện với trẻ bằng tiếng việt, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các sự vật hiện tượng xung quanh, luôn đặt câu hỏi, khuyến khích trẻ trả lời, luôn lắng nghe tâm tư nguyện vọng, đáp ứng những mong muốn chính đáng của trẻ.
- Kết quả thực hiện: Sau khi áp dụng biện pháp phụ huynh tin tưởng cô giáo, luôn ủng hộ và tham gia đồng hành cùng con trong các hoạt động của trường, lớp. Không chỉ hoạt động học mà phụ huynh còn tham gia các buổi lao động vệ sinh trường, lớp cùng cô giáo.
3. Kết quả thực hiện các biện pháp
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt
động phát triển vốn từ cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi trong trường mầm non” Tôi đã đạt được rất nhiều kết quả tích cực, từ môi trường giáo dục, kĩ năng, kiến thức của trẻ, sự quan tâm của phụ huynh và nhiều bài học có giá trị.
* Đối với trẻ: Môi trường hoạt động của trẻ được cải thiện, luôn tạo môi trường lấy trẻ làm trung tâm, mọi hoạt động đều hướng đến trẻ tạo cho trẻ muốn khám phá và học tập, từ đó giúp trẻ phát triển vốn từ qua các góc chơi.
- Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào cuộc sống hàng ngày.
- Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong khi giao tiếp.
- Trẻ khi giao tiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh.
- Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa.
* Đối với giáo viên
- Thường xuyên nghiên cứu tài liệu, tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, linh hoạt, đổi mới, sáng tạo, mạnh dạn đưa các phương
pháp mới để tổ chức một số hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ.
- Có kế hoạch xây dựng chương trình học, các dự án có ứng dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ số và đặc biệt lồng ghép tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ phù hợp với nội dung học dựa trên đặc điểm của từng lứa tuổi và tâm sinh lý của từng trẻ. Lắng nghe ý kiến đóng góp, xây dựng, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động để giúp giáo viên tích cực, trẻ phát triển tốt hơn.
- Tại lớp và khối đã xây dựng được nhiều nội dung các bài học giáo dục phát triển vốn từ cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi đưa vào chương trình đạt hiệu quả cao.
- Lồng ghép được rất nhiều nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ, vốn từ cho trẻ qua các hoạt động giáo dục theo chế độ sinh hoạt hàng ngày có chất lượng.
- Ứng dụng công nghệ thông tin, làm tốt công tác tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh để phát triển vốn từ cho trẻ giúp trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ.
* Đối với phụ huynh
- Nhận được sự tin tưởng, đồng hành của phụ huynh trong cách giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Phụ huynh đã nhận thấy sự cần thiết của việc phát triển vốn từ cho trẻ và phối hợp với giáo viên trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ. Phụ huynh phối hợp với giáo viên trong việc dạy trẻ, rèn trẻ phát triển vốn từ tại nhà như ôn lại bài thơ, đọc lại câu chuyện cho trẻ nghe ở nhà, thường xuyên trao đổi với giáo viên bằng nhiều hình thức trực tiếp, gián tiến hoặc thông qua bảng thông tin dành cho cha mẹ, bảng đánh giá trẻ ở lớp.
4. Hiệu quả trong việc phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng
* Hiệu quả về khoa học:
- Phát triển vốn từ cho trẻ ở trường mầm non và đặc biệt là lứa tuổi nhà trẻ 24-36 tháng tuổi là vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Vì vậy tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện đề tài này.
- Giáo viên cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ để có biện pháp giáo dục phù hợp, năm được tầm quan trọng của phát triển vốn từ với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ, không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tự rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn Tiếng việt.
- Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để giáo viên nắm vững tâm sinh lý của trẻ để từ đó có kế hoạch phát triển vốn từ và để thống nhất phương pháp rèn luyện khả năng nói, khả năng diễn đạt câu mạch lạc, rõ ràng cho trẻ một cách có hiệu quả. Cô giáo tạo điều kiện cho trẻ nghe nhiều và nói chuyện nhiều với trẻ, luôn tìm cách thúc đẩy trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách chủ động. Thường xuyên gần gũi trẻ, quan sát trò chuyện với trẻ để trẻ có cơ hội phát triển vốn từ của mình. Tích cực cho trẻ tiếp cận làm quen với thiên nhiên và phát triển khả năng quan sát của trẻ, giúp trẻ củng cố và tư duy hóa các biểu tượng ngôn từ.
* Hiệu quả kinh tế: Vận dụng sáng kiến này vào thực tế giảng dạy sẽ mang lại hiệu quả cao nhất, mức chi phí thấp. Đồ dùng đồ chơi mà tôi tự tạo để áp dụng cho các giải pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ là những phế liệu phế thải tôi đã tận dụng được, ít phải mua, rất dễ kiếm, dễ tìm, dễ làm mà mang lại hiệu quả rất cao.
* Hiệu quả về mặt xã hội
Việc phát triển ngôn ngữ- vốn từ cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng là một việc làm cần thiết, là một nhiệm vụ quan trọng đối với tất cả giáo viên mầm non. Qua các giải pháp trên mà tôi đã áp dụng vào thực tế lớp mình, tôi thấy vốn từ của trẻ ngày càng phong phú, trẻ nói rõ ràng mạch lạc…Góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện và giúp trẻ dễ dàng tham gia vào mọi hoạt động của cuộc sống xã hội.
5. Tính khả thi: Việc tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ trong độ tuổi 24–36 tháng là hoàn toàn khả thi và phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ, được thể hiện qua các yếu tố sau:
* Phù hợp với đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ
Ở giai đoạn 24–36 tháng, trẻ bước vào thời kỳ “bùng nổ ngôn ngữ”.
- Trẻ hiểu và sử dụng nhiều từ đơn, cụm từ ngắn. Biết bắt chước lời nói của người lớn. Biết gọi tên sự vật, hiện tượng quen thuộc
Điều này tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tổ chức các hoạt động như trò chuyện, kể chuyện, đọc thơ, hát… giúp trẻ tiếp thu từ mới một cách tự nhiên.
* Nội dung hoạt động gần gũi, dễ triển khai
Các hoạt động phát triển vốn từ thường xoay quanh:
- Chủ đề quen thuộc (gia đình, đồ vật, con vật, màu sắc…)
- Tình huống sinh hoạt hằng ngày (ăn, ngủ, chơi)
Vì vậy, giáo viên dễ dàng xây dựng nội dung phù hợp mà không cần yêu cầu quá cao về kiến thức hay kỹ thuật.
* Hình thức tổ chức linh hoạt, đa dạng
Hoạt động có thể tổ chức thông qua: Trò chơi ngôn ngữ, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, giao tiếp hằng ngày. Sự linh hoạt này giúp giáo viên dễ lồng ghép vào các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ mà không cần tách riêng thành tiết học độc lập.
* Đồ dùng, học liệu dễ chuẩn bị
Các phương tiện hỗ trợ rất đơn giản, như: Tranh ảnh, thẻ từ, đồ vật thật,
đồ chơi quen thuộc, sách tranh. Do đó, không cần đầu tư lớn về tài chính nhưng
vẫn mang lại hiệu quả cao.
* Thời gian thực hiện: Áp dụng xuyên suốt năm học, có thể duy trì lâu dài.
6. Kinh phí thực hiện: Sử dụng từ nguồn ngân sách sẵn có, không phát sinh những chi phí quá lớn.
III. Kết luận
Tóm lại, phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi là một hoạt động giáo dục mang tính thường xuyên, xuyên suốt và vô cùng cần thiết. Việc tạo môi trường ngôn ngữ tích cực, gần gũi là chia khóa giúp trẻ tự tin diễn đạt, phát triển tư duy và cảm xúc toàn diện.
* Khuyến nghị và đề xuất
- Đối với nhà trường
Cần tăng cường hơn nữa các lớp tập huấn, kiến tập, các lớp bồi dưỡng chuyên đề để giáo viên có cơ hội học hỏi thêm kinh nghiệm để dạy trẻ và vốn từ của trẻ sẽ đạt kết quả cao các hoạt động học 24- 36 tháng tuổi để chúng tôi được tham quan, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp và ở các nhà trường mầm non ở các phường khác. Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng các tiết hoạt động có lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong trường mầm non.
- Đối với giáo viên
Muốn giáo dục trẻ đạt kết quả tốt, người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, có tấm lòng yêu nghề, mến trẻ, phải nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
Người giáo viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Trau dồi kiến thức, nâng cao nhận thức qua các tài liệu sách báo, các thông tin trên mạng, các tài liệu nghiên cứu về giáo dục trẻ trong lứa tuổi mầm non.
Mạnh dạn suy nghĩ, sáng tạo và vận dụng linh hoạt trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ. Kết hợp với phụ huynh để có biện pháp giáo dục trẻ một cách tốt nhất ở gia đình và nhà trường.
- Đối với phụ huynh
Phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên trong việc trang bị kiến thức giúp trẻ phát triển vốn từ ở mọi lúc, mọi nơi.
Trên đây là “Một số kinh nghiệm tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong trường mầm non” mà tôi đã nghiên cứu và thực hiện tại học sinh lớp tôi, trong quá trình dạy trẻ đã đạt những hiệu quả nhất định. Bên cạnh việc đạt được mục tiêu giáo dục đề ra tôi còn tích lũy thêm được nhiều kiến thức và cách rèn luyện kĩ năng phát âm chuẩn cho trẻ. Vì kĩ năng này đóng một vị trí rất trọng trong cuộc sống hàng ngày của trẻ, giúp trẻ có thêm nhiều vốn từ mới làm giàu cho kho tàng kiến thức của trẻ. Tuy bài viết đã có sự nghiên cứu và đầu tư song không tránh khỏi những thiếu sót. Bản thân tôi rất mong nhận được sự đóng góp bổ sung, giúp đỡ và tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn, được phổ biến rộng rãi trong trường cũng như các trường bạn.
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm do tôi viết. Tôi không sao chép nội dung của người khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
| XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ (Ký tên, đóng dấu) Tưởng Minh Hường | Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2026 Người viết sáng kiến (Ký tên) Nguyễn Thùy Dương |
PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA
Hình ảnh: Tập huấn ứng dụng công nghệ thông tin
|  Hình ảnh Trẻ tham gia hoạt động ngoài trời Hình ảnh Trẻ tham gia hoạt động ngoài trời   | |
|  Hình ảnh: Giờ Đón trẻ   | |
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết trong việc phát triển vốn từ cho trẻ......................................... 1
2. Mục tiêu tiến hành sáng kiến....................................................................... 2
3. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................ 2
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN.......................................................................... 2
1. Thực trạng vấn đề....................................................................................... 2
2. Một số biện pháp thực hiện......................................................................... 4
2.1. Biện pháp 1: Tăng cường công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân 5
2.2. Biện pháp 2: Tìm hiểu tâm lí, đặc điểm ngôn ngữ của từng trẻ để có biện pháp giáo dục phù hợp................................................................................................................ 6
2.3. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học và thân thiện, gần gũi kích thích trẻ tìm tòi khám phá giúp trẻ phát triển vốn từ................................................................. 7
2.4. Biện pháp 4: Lựa chọn tổ chức các hoạt động phát triển vốn từ cho trẻ phù hợp với độ tuổi ...................................................................................................................... 8
2.5. Biện pháp 5: Làm tốt công tác truyền thông đến phụ huynh nhằm phối hợp thực hiện giáo dục phát triển vốn từ cho trẻ.......................................................................... 12
3. Kết quả thực hiện biện pháp...................................................................... 12
4. Hiệu quả trong việc phát triển vốn từ cho trẻ 24-36 tháng........................... 13
5. Tính khả thi.............................................................................................. 14
6. Kinh phí thực hiện sáng kiến..................................................................... 15
III. KẾT LUẬN............................................................................................ 15
Kiến nghị, đề xuất........................................................................................ 15
IV. PHỤ LỤC.............................................................................................. 17